Sách Khoa học - Công nghệTóm Tắt Sách
Thịnh Hành

Tóm tắt Lược sử loài người – Sapiens

Cuốn sách bất kì ai cũng phải đọc

7. Đế quốc là gì? Có phải đế quốc chỉ toàn những mặt xấu? 

Đế quốc có hai đặc tính quan trọng: thứ nhất, đế quốc phải cai trị một lượng đáng kể các dân tộc khác biệt, mỗi dân tộc lại mang bản sắc văn hoá của riêng mình và có một vùng lãnh thổ xác định. Điểm thứ hai là đường biên giới của các đế quốc rất linh hoạt và họ mang tham vọng vô tận.

Chính yếu tố đa dạng văn hoá và linh động lãnh thổ đã giúp các đế quốc thành công trong việc thống nhất các nhóm sắc tộc và các vùng dưới một cây chính trị duy nhất, gắn kết nhiều nhóm chủng người trên hành tinh này.

Sự ra đời của một đế quốc không nhất thiết phải thông qua các cuộc giao tranh quân sự, chẳng hạn như đế chế Athens xuất hiện như một liên minh tự nguyện. Một đế quốc cũng không cần phải do hoàng đế chuyên quyền cai trị. Ví dụ như trường hợp của nước Anh, đế quốc lớn nhất trong lịch sử, được cai trị bằng chế độ dân chủ. Diện tích lại càng không phải là yếu tố xác định một quốc gia có phải là đế quốc hay không. Ở thời kỳ hưng thịnh nhất, đế chế Athens có diện tích và dân số ít hơn nhiều so với Mexico hiện đại. Nhưng Athens là đế quốc còn Mexico hiện đại thì không.

đế-quốc-là-gì

Trong suốt hơn 2.500 năm qua, đế quốc là hình thức tổ chức chính trị phổ biến nhất trên thế giới. Đây thực sự là một hình thái chính quyền ổn định. Hầu hết các cuộc nổi dậy đều được đế quốc dập tắt. Nhìn chung, lý do khiến các đế quốc sụp đổ xuất phát từ sự chia rẽ trong tầng lớp cầm quyền hoặc do bị ngoại bang xâm lược. Dẫu vậy, sự ra đi của một đế quốc nào đó không có nghĩa là các dân tộc bị trị được giải phóng. Điều thường diễn ra là các đế quốc mới thường sẽ lấp ngay vào khoảng trống quyền lực do đế quốc cũ để lại.

Nhìn chung, việc thiết lập và duy trì đế quốc bắt buộc phải trải qua rất nhiều vụ tàn sát đẫm máu một lượng lớn dân cư và đàn áp tàn bạo những người còn sống sót. Thế nhưng điều này không có nghĩa là đế quốc chỉ toàn những mặt tối. Nếu ta chối bỏ các di sản do đế quốc để lại, đồng nghĩa với việc ta vứt bỏ hầu hết văn hoá loài người. Nhiều thành tựu văn hoá của nhân loại được tạo ra nhờ một phần vào quá trình bóc lột số dân chúng bị chinh phục. Nếu không có số của cải do Mugal bóc lột thần dân Ấn Độ thì chúng ta sẽ không được chiêm ngưỡng vẻ đẹp lộng lẫy của lâu đài Taj Mahal.

Bên cạnh đóng vai trò quyết định trong việc tập hợp nhiều nền văn hoá nhỏ thành một nền văn hoá lớn, các đế quốc còn tích cực truyền bá văn hoá. Việc này sẽ khiến cho sự cai trị của họ dễ dàng hơn và giúp họ hợp pháp hoá những hành động đáng ngờ như thuế vụ, quân dịch, tôn sùng hoàng đế. Tư tưởng văn hoá các đế quốc truyền bá hiếm khi là sản phẩm của riêng giai cấp ưu tú thống trị mà thường là tập hợp những tư tưởng, tiêu chuẩn và truyền thống từ nhiều nơi.

Khi bước sang thế kỷ 21, chủ nghĩa dân tộc dần mất đi chỗ đứng. Sự xuất hiện của các vấn đề toàn cầu khiến cho không một nhà nước có chủ quyền nào có thể một mình khắc phục hiện tượng ấm lên toàn cầu. Các quốc gia đang phải mở cửa cho các guồng máy của thị trường toàn cầu, cho sự can thiệp của các công ty toàn cầu, các tổ chức phi chính phủ, cho sự giám sát của dư luận quốc tế và hệ thống tư pháp quốc tế.

Đọc thêm:  Đắc Nhân Tâm Tóm Tắt

8. Tôn giáo quan niệm thế nào về thế giới? 

Tôn giáo được hiểu là hệ thống các quy chuẩn và giá trị con người được xây dựng dựa trên niềm tin vào một trật tự siêu nhiên.

Sau hơn 2.000 năm bị độc thần giáo tẩy não, đa số người phương Tây đều đánh giá đa thần giáo là sự mông muội và ấu trĩ. Đây là một định kiến bất công.

Đa thần giáo không quan tâm đến những ham muốn, mối bận tâm và lo lắng trần tục của con người. Do vậy, thật vô nghĩa khi bạn cầu xin thế lực này ban cho sức khoẻ, ban cho mưa, giành thắng lợi trong các cuộc chiến. Theo đa thần giáo, lý do duy nhất để đến với quyền lực tối cao của vũ trụ là từ bỏ hết mọi tham sân si và bằng lòng với những cái hay, cái dở, thất bại, nghèo đói, bệnh tật và cái chết.

Vì thế, một số người theo đạo Hindu luôn cố gắng nhận ra rằng, những ham muốn và sợ hãi của con người đều chỉ là hiện tượng phù du, vô nghĩa. Thấu hiểu đa thần giáo cho phép con người khoan dung với nhiều tôn giáo, chấp nhận quyền năng của các vị thần, không ngược đãi kẻ “dị giáo” và “ngoại đạo”. Ngay cả khi những người đa thần giáo như Ai Cập, La Mã và Aztec chinh phục các đế chế lớn, họ cũng không cố gắng cải tạo thần dân của mình, không gửi nhà truyền đạo và càng không cử quân đội đến những vùng đất xa xôi vì mục đích truyền đạo. Theo thời gian, một số tín đồ đa thần giáo ngày càng quá yêu mến một vị thần bảo hộ đến mức họ dần tách khỏi đa thần giáo cơ bản. Họ tin vị thần đó có quyền lực cao nhất và cho rằng, Ngài là đấng có những vị lợi, thiên kiến riêng và có thể thoả hiệp với Ngài. Chính điều này đã sinh ra thuyết độc thần và tín đồ của tôn giáo này luôn khẩn cầu đấng tối cao giúp họ khỏi bệnh, trúng số và giành thắng lợi trong các cuộc giao tranh.

Tôn giáo quan niệm thế nào về thế giới
Xem sách trên Tiki Xem sách trên Fahasa  Đọc thử sách

Đa thần giáo còn sinh ra những tôn giáo nhị nguyên. Kiểu tôn giáo này công nhận sự tồn tại của hai sức mạnh đối lập: thiện và ác. Nhị nguyên giải thích rằng, toàn bộ vũ trụ là một chiến trường giữa hai lực lượng này. Điều hấp dẫn của thuyết nhị nguyên là nó có câu trả lời ngắn gọn, đơn giản cho những câu hỏi như “Tại sao cái ác tồn tại trên thế giới? Tại sao có đau khổ? Tại sao những điều xấu lại xảy ra với người tốt?” Lời giải thích là nếu không có cái ác, con người không phải lựa chọn giữa cái thiện và cái ác và do đó không có ý chí tự do.

  Một khái niệm quan trọng khác trong thuyết nhị nguyên là sự phân biệt rõ ràng giữa thể xác và linh hồn, giữa vật chất và tinh thần.Theo quan niệm này, con người là hiện thân của cuộc chiến giữa linh hồn tốt đẹp và thân xác xấu xa. Chính sự phân biệt rạch ròi giữa linh hồn và thể xác, vật chất và tinh thần trong thuyết nhị nguyên đã giúp các tín đồ độc thần giải quyết được các vấn đề về cái ác. Cuối cùng, điều này đã trở thành nền tảng tư tưởng của Ki-tô giáo và Hồi giáo. Thiên đường (Vương quốc của Chúa) và địa ngục (vương quốc của ác quỷ) đều xuất phát từ niềm tin này.

Tất cả các tôn giáo mà chúng ta thảo luận có đặc điểm chung là chúng đều tập trung đức tin vào thần linh và thực thể siêu nhiên khác. Tuy nhiên, vào thế kỷ 1 TCN, các tôn giáo như Jaina giáo và Phật giáo ở Ấn Độ, Đạo giáo và Nho giáo ở Trung Quốc, chủ nghĩa khắc kỷ, chủ nghĩa hoài nghi, chủ nghĩa hưởng lạc lại coi thường thần linh. Họ cho rằng, thế giới được chi phối bởi các quy luật của tự nhiên chứ không phải ý chí của thần linh. Một số tôn giáo vẫn coi trọng sự tồn tại của những vị thần nhưng thần linh của họ là hiện thân của những quy luật tự nhiên. Chẳng hạn như Phật giáo là một ví dụ điển hình. Quy luật được các Phật tử thừa nhận như một định luật tự nhiên phổ quát là: đau khổ phát sinh từ tham ái, cách duy nhất để thoát khỏi tình trạng này là giải thoát bản thân hoàn toàn khỏi tham ái. Một người không thèm muốn thì sẽ không nếm trải cảm giác đau khổ.

Đọc thêm:  Đắc Nhân Tâm Tóm Tắt

Nói tóm lại, chúng ta nghiên cứu lịch sử không phải để biết tương lai vì môn khoa học này không có phương tiện để đưa ra các dự đoán chính xác như vật lý hay kinh tế. Ta nghiền ngẫm lịch sử là nhằm mở rộng chân trời hiểu biết của mình, để biết rằng tình trạng hiện nay của chúng ta không phải do tự nhiên, cũng không phải do tất yếu và chúng ta có nhiều lựa chọn hơn mình tưởng.

9. Cách mạng khoa học đưa nhân loại bước lên kỷ nguyên hiện đại hóa, chủ nghĩa đế quốc và tăng trưởng kinh tế

Trong phần lớn thời gian tồn tại của mình, loài người là một giống loài khá bi quan. Đa số con người, trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn vạn năm đều không tin tưởng vào khả năng của mình. Thay vào đó, họ đặt niềm tin vào những đấng toàn năng, thần, Phật, Chúa Trời… Và vì suy nghĩ thâm căn cố để rằng những đấng toàn năng ấy có quyền kiểm soát đối với mỗi con người trong suốt cuộc đời của họ, nên con người hầu như không hề cố gắng tìm hiểu những cái mới, tìm tòi những sáng tạo khoa học hay thực sự suy nghĩ xem vạn vật xung quanh đang vận hành như thế nào. Cách tồn tại tốt nhất chính là ngồi im và chờ đợi số phận được sắp đặt trước đến với mình.

Tuy nhiên, cho đến thế kỷ 16 và 17, thái độ bi quan và thụ động này dần thay đổi. Một cuộc cách mạng khoa học tràn qua Châu Âu và mang lại những thành tựu vĩ đại không ngờ tới. Thay vì phó mặc số phận mình cho Chúa Trời, con người bắt đầu suy nghĩ xem làm thế nào để có thể tự cải thiện cuộc sống của bản thân mình và cải thiện được xã hội thông qua khoa học.

cách mạng khoa học

Bằng cách áp dụng các nguyên tắc khoa học thăm dò, thử nghiệm và quan sát, con người đã thực hiện được những bước nhảy vượt bậc trong nhận thức về hầu hết mọi lĩnh vực trong cuộc sống, mà đặc biệt là y học, thiên văn học và vật lý học. Các phát kiến đã giúp cho xã hội nói chung trở thành một nơi đáng sống và dễ sống hơn rất nhiều.

Lấy tỷ lệ tử vong ở trẻ em làm ví dụ. Kể từ khi phương pháp khoa học được áp dụng cho y học và y tế công cộng, tỷ lệ tử vong ở trẻ em đã giảm đi đáng kể. Trong quá khứ, ngay cả ở những gia đình hoàng tộc và giàu có nhất thì cũng chỉ có ba hoặc bốn trẻ em (trên tổng số 10-15 trẻ em được sinh ra) là có thể sống được đến tuổi trưởng thành. Ngày nay, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh chỉ còn trung bình là khoảng 1/1000.

Không chỉ mang lại những lợi ích vượt bậc trong việc cải thiện sức khỏe con người, việc theo đuổi khoa học cũng đã cho thấy những lợi ích to lớn khác về mặt kinh tế – điều mà chính phủ Châu Âu đã nhanh chóng nhận ra và không lỡ thêm một phút giây nào để tận dụng nó. Các nhà khoa học, với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của hoàng gia, đã ra khơi để tìm kiếm các ý tưởng và nguồn lực để kiếm tiền và làm giàu mạnh thêm cho quốc gia của họ.

Tiêu biểu nhất có thể kể đến sự kiện vua Castile tài trợ cho cuộc hành trình nổi tiếng của Columbus vượt Đại Tây Dương, mà kết quả của nó chúng ta không còn xa lại gì nữa: Columbus khám phá ra Châu Mỹ. Đổi lại cho sự ủng hộ việc thăm dò và thám hiểm đó, nhà vua đã mua lại một đế chế Mỹ khổng lồ đầy rẫy các nguồn tài nguyên quý giá như vàng, bạc và các mỏ quặng.

Tương tự như vậy, chính phủ Anh đã phái James Cook để khám phá miền Nam Thái BÌnh Dương – sự kiện tiền đề đưa họ đến với các lãnh thổ rộng lớn và giàu đẹp của Úc, New Zealand…

Và dù trong bất kì trường hợp nào, các nền kinh tế Châu Âu cũng đều phát triển như là kết quả của việc thăm dò và đổi mới khoa học. Nhưng điều đáng tiếc nhất là: lợi ích của dân Châu Âu lại được đánh đổi bằng chính chi phí của những người dân bản địa nơi người Châu Âu đặt chân đến. Hàng trăm nền văn minh cổ xưa và đặc trưng đã bị phá hủy, các di tích bị tàn phá, người bản địa bị đàn áp, giết hại hoặc bắt làm nô lệ…

Trang trước 1 2 3 4 5Trang sau
Via
Nhện Book
Tags
Hiển Thị Thêm

Cao Minh Nguyên

Một cử nhân Luật đam mê đọc sách và cuồng viết lách. Cảm ơn bạn đã ghé thăm Blog của mình.

Để lại Bình luận

avatar
  Đăng ký  
Thông báo về
Back to top button
Close